Nghĩa địa đá kỳ lạ của quan lang ở Hòa Bình

Vào những đêm sáng trăng, ánh trăng nhảy múa trên các thân cột đá tạo ra vô vàn hình thù kỳ quái, chẳng thể phân biệt đâu là cột đá, đâu là cây cối.

“Thánh địa xứ Mường”
Để đến được xã Vĩnh Đồng, huyện Kim Bôi, Hòa Bình, nơi có khu nghĩa địa đá của quan lang xứ Mường mà theo những lời đồn đại, từ nhiều năm nay vẫn còn tồn tại vô số những bí ẩn và những giai thoại kỳ lạ, phải vượt qua con đường dốc ngoằn nghèo. Khi còn cách khoảng hơn ba cây số, xe máy không thể đi được nữa, chúng tôi đành gửi lại xe tại nhà của một người dân và nhờ ông Đinh Văn Hùng (70 tuổi), một người dân bản địa dẫn đường.
Vừa sải bước trên cánh đồng, ông Hùng vừa kể rằng, khu địa linh với hàng trăm ngôi mộ bằng đá chính là nơi chôn cất của dòng họ Đinh Công, một dòng họ có chức sắc và uy quyền nhất ở xứ Mường ngày xưa.‏ Tương truyền, người đầu tiên đặt chân đến vùng đất này là bà vợ thứ ba của vua Hùng dời bỏ hoàng cung, dắt theo hai người con lên đây khai hoang lập bản, tạo nên vùng đất mới trù phú. Khi mất, ba mẹ con đã hóa thành ba ngọn núi dáng rồng chầu và cùng hướng về kinh đô. Vì thế hàng năm, vào dịp Tết, các bản Mường dắt trâu, bò lên núi ở khu vực Đống Thếch mổ thịt làm lễ cúng.
‏Người đặt nền móng cho sự phồn thịnh của dòng họ Đinh Công của xứ Mường Động là ông Đinh Văn Cương vốn người Ngọc Lặc, Thanh Hóa. Ông Cương mồ côi cha, từ nhỏ đã đam mê võ thuật, đánh trận. Một lần khi vua Lê hành quân qua đây bị giặc phục kích, đang lúc nguy khốn, ông Cương đã ra tay tương cứu giúp vua thoát nạn.

Khu nghĩa địa đá của quan lang xứ  Mường
 
‏Để ghi nhớ công trạng, nhà vua phong công thần và ban cho ông chữ Công, đổi tên đệm từ Đinh Văn thành Đinh Công và giao trấn giữ vùng đất Kim Bôi, Hòa Bình ngày nay. Khi ông chết, người ta phải dùng hàng chục con voi về Thanh Hóa chuyển đá ra làm mộ, ròng rã nhiều tháng trời mới xong. Con trai ông là Đinh Công Kỷ, một tướng giỏi được phong đến chức Quận công.
‏Từ đó, dòng họ Đinh Công ngày càng phát triển. Chỉ những người làm quan trong dòng họ Đinh khi chết mới được chôn trong khu mộ đá được gọi tên là Đống Thếch và quanh năm có người trông coi cẩn thận. Khi một vị quan lang hoặc gia tộc có người chết thì cả vùng Mường Động làm đại tang.
Tất cả các ngôi mộ đều được chôn tạo hình với những cột đá cao từ 1 đến 3m, phía đầu mộ đá to, chân mộ chôn đá nhỏ. Hai bên cũng được bao bọc bởi hàng rào đá xếp ken dày. Số lượng cột đá được chôn xuống nhiều hay ít tỉ lệ với danh tiếng, uy quyền của người quá cố. Những khối đá cẩm thạch nhẵn bóng, tuyệt đẹp, vững chãi có nguồn gốc ở tận Thanh Hóa thể hiện sự bề thế và quyền lực của các dòng họ quan Lang ở xứ Mường.
Ông Hùng cũng bảo rằng, ở xứ Mường Động ngày xưa, các vị quan Lang ở đây đã chọn khu vực núi non hình miệng rồng này làm nơi yên nghỉ vĩnh hằng nhằm giữ long mạch cho con cháu đời sau mãi được thịnh vượng. Mỗi bản Mường thường có một bà mỡi (tương tự như thầy mo, thầy cúng) và các bà mỡi có quyền lực rất lớn trong bản. Điều đặc biệt là các bà mỡi đều thờ Vua Hùng. Để quyền năng của mình cao hơn, các bà mỡi thường sắm lễ mang vào rừng mộ đá cúng bái.

‏Sự trừng phạt rùng rợn cho những kẻ trộm mộ
‏Gắn liền với khu mộ cổ là những câu chuyện mang đầy màu sắc liêu trai, huyền bí được lưu truyền hàng mấy trăm năm qua. Ông Hùng khẽ nhíu đôi mắt mà rằng, ngày trước, nơi đây còn là một thung lũng ít người sinh sống, xung quanh cây cối um tùm, ánh nắng không bao giờ lọt tới. Vào những đêm sáng trăng, ánh trăng nhảy múa trên các thân cột đá tạo ra vô vàn hình thù kỳ quái, chẳng thể phân biệt đâu là cột đá, đâu là cây cối. Cộng với tiếng gió thổi ù ù từ trên đỉnh núi tràn xuống khu mộ đá, nghe như tiếng tù và rúc thổi lúc gần, lúc xa, đêm trời càng gió, trăng càng sáng thì tiếng tù và càng to, giống như tiếng hú.


Gắn với khu mộ đá là những câu chuyện rùng rợn về sự trừng phạt những kẻ trộm mộ

 
Người dân ở đây còn đồn rằng, có gia đình liều mạng đưa hài cốt người thân táng vào khu mộ địa này, lập tức cả nhà gặp những chuyên không lành. Chỉ đến khi một bà mỡi (tương tự thầy mo, thầy cúng) lập đàn cúng tế, sai gia đình đưa hài cốt người thân ra chỗ khác, mọi người mới lại được yên.‏‏ Không rõ những truyền thuyết đó là thực hay hư, nhưng nó đã biến khu mộ này chìm nghỉm vào rừng thẳm. Thánh địa mộ đá này chỉ được đánh thức khi đám đào mồ cuốc mả tìm vào đào bới tan tác khu mộ để tìm cổ vật.
Dưới những ngôi mộ cổ, ngoài những đồ dùng, vật dụng sinh hoạt hàng ngày, những vị quan lang xứ Mường khi chết còn di chúc cho người hầu chôn sống cả các cô gái xinh đẹp còn trinh theo mình.
Những cô gái trinh nữ được chôn sống này ngoài nhiệm vụ để hầu hạ cho chủ nhân, vừa được xem như thần giữ của. Trước khi chôn, các cô gái được cho tắm rửa sạch sẽ, ăn của ngon vật lạ và được ngậm sâm khi chôn. Sau này khi khai quật mộ, người ta phát hiện ra rất nhiều hình nộm người mà theo truyền thuyết, các hình nộm này đều được yểm bùa, ngâm trong chất độc, ai chạm vào chất độc sẽ ngấm vào người cho đến chết.
Mặc dù mộ đá được xem như chốn linh thiêng là vậy nhưng vẫn không ngăn nổi bước chân của những kẻ đạo tặc “coi trời bằng vung”. Ông Hùng chua xót cho hay, năm 1974, Viện Khảo cổ đã khảo sát, nghiên cứu, khu mộ cổ hầu như vẫn còn nguyên vẹn với hơn 100 ngôi mộ và hàng ngàn phiến đá có khắc chữ. Nhưng phải đến năm 1984, công việc khai quật mới được tiến hành. Lúc này, hầu hết các ngôi mộ đã bị đào bới, nhiều hiện vật bị lấy trộm, rơi vào tay các nhà sưu tầm đồ cổ, thậm chí bị tuồn ra nước ngoài.
Hiện tại, không chỉ phía chính quyền mà cả người cổ đều hy vọng khu mộ đá cổ sẽ sớm được sự quan tâm của các nhà khảo cổ, khoa học cũng như chính quyền các cấp để có biện pháp bảo vệ kịp thời.

Nguồn: Kinh Vân