Bí ẩn khu lăng mộ đá của Vua Khải Định

Lăng khải định được xây dựng trong vòng 11 năm từ 1920 đến 1931 với sự tham gia của nhiều nghệ nhân nổi tiếng như: Phan Văn Tánh, Nguyên Văn khả, Ký Duyệt,…là những nghệ nhân nổi tiếng trong việc xây dựng các khu lăng mộ đá thời bấy giờ.

Khải Định tên khai sinh là Nguyễn Hoằng Tông, là vị Hoàng đế thứ 12 triều đại nhà Nguyễn. Ông trị vị từ 1916 đến 1925, là một vị hoàng đế chỉ ham chơi bời, cờ bạc. Ông thích tự thiết kế thời trang cho bản thân và cho cả quan hộ vệ. Ông còn thích trang điểm, ăn mặc lòe loẹt, không tuân theo y phục hoàng bào truyền thống của các Hoàng đế và thường bị đả kích trên báo chí đương thời. Khải Định tạ thế vào ngày 6 tháng 11 năm 1925, thọ 40 tuổi. Sau khi mất ông được mai táng tại núi Châu Chữ, thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên – Huế.

Tượng vua Khải Định
Khu lăng mộ đá của Khải Định được ông đã tham khảo nhiều tấu trình của các thầy địa lý cuối cùng đã chọn triền núi Châu Chữ làm vị trí để xây cất lăng mộ. Ở vị trí này, lăng Khải Định lấy một quả đồi thấp ở phía trước làm tiền án; lấy núi Chóp Vung và Kim Sơn chầu trước mặt làm “Tả thanh long” và “Hữu bạch hổ”; có khe Châu Ê chảy từ trái qua phải làm “thủy tụ”, gọi là “minh đường”. Nhà vua đổi tên núi Châu Chữ – vừa là hậu chẩm, vừa là “mặt bằng” của lăng – thành Ứng Sơn và gọi tên lăng theo tên núi là Ứng Lăng.
Hình ảnh bên ngoài khu lăng mộ khải định
Những điểm nổi bật của khu lăng mộ Khải Định
Lăng khải định được xây dựng trong vòng 11 năm từ 1920 đến 1931 với sự tham gia của nhiều nghệ nhân nổi tiếng như: Phan Văn Tánh, Nguyên Văn khả, Ký Duyệt,…là những nghệ nhân nổi tiếng trong việc xây dựng các khu lăng mộ đá thời bấy giờ. Chi phí xây dựng lăng là mồ hôi nước mắt của dân, ông đã tăng thuế lên 30% để lấy tiên xây dựng lăng mộ cho mình
Lăng Khải Định được xây dựng rất kỳ công và tốn kém
Diện tích toàn bộ lăng mộ là 117m × 48,5m. Vật liệu xây lăng đều là hàng ngoại: sắt thép, xi măng, ngói Ardoise… được nhập khẩu từ Pháp, các đồ sứ, thủy tinh màu được nhập khẩu từ Trung Quốc, Nhật Bản. Kiến trúc của lăng có sự xâm nhập của nhiều trường phái kiến trúc khác nhau như: kiểu Ấn Độ giáo, Roman, Phật giáo, còn có cả Thiên Chúa Giáo,…
Toàn bộ nội thất trong cung chính của lăng đều được trang trí những phù điêu ghép bằng sành sứ và thủy tinh. Đó là những bộ tranh tứ quý, bát bửu, ngũ phúc, bộ khay trà, vương miện… kể cả những vật dụng rất hiện đại như đồng hồ báo thức, vợt tennis, đèn dầu hỏa… cũng được trang trí nơi đây. Công trình này gồm 5 phần liền nhau:
– Hai bên là Tả, Hữu Trực Phòng dành cho lính hộ lăng;
– Phía trước là điện Khải Thành, nơi có án thờ và chân dung vua Khải Định;
– Chính giữa là bửu tán, pho tượng nhà vua ở trên và mộ phần phía dưới;
– Trong cùng là khám thờ bài vị của vua.
Bên dưới bửu tán là pho tượng đồng của Khải Định được đúc tại Pháp năm 1920, do 2 người Pháp là P. Ducing và F. Barbedienne thực hiện theo yêu cầu của vua Khải Định. Thi hài nhà vua được đưa vào dưới pho tượng bằng một toại đạo dài gần 30 m, bắt đầu từ phía sau Bi Đình. Phía sau ngôi mộ, vầng mặt trời đang lặn như biểu thị cái chết của vua.
Tuy là một khu lăng mộ đá đẹp, sầm uất nhưng vấn có gì đó nhố nhăng trong sự kết hợp giữa Đông và Tây, giữa các tín ngưỡng tôn giáo với nhau. Phong cách xây lăng mộ nó cũng phản ánh phong cách của Khải Định lúc còn sống.

(sưu tầm)