Bí ẩn hai hàng voi, ngựa đá ở Thái Bình

Một quần thể tượng voi đá, ngựa đá, tượng những người lính bằng đá xếp thành hai hàng dọc trong ngôi đền thờ ở giữa tỉnh lúa Thái Bình là một điều kỳ lạ ít người biết đến.

Bởi lẽ, Thái Bình là tỉnh duy nhất không có núi đá nên sự có mặt của những pho tượng đá khổng lồ nặng hàng tấn đã tồn tại tại đây hàng trăm năm; cách thức đục đẽo, lối chạm khắc khéo léo, tinh vi… của những pho tượng này có thể so sánh với hàng tượng đá tại lăng vua Minh Mạng trong Đại nội Huế…
Hơn cả, xung quanh quần thể tượng voi đá, ngựa đá này là những huyền thoại đầy bí ẩn!
Quần thể tượng voi đá, ngựa đá bí ẩn
Quần thể tượng voi đá, ngựa đá, lính hầu bằng đá khổng lồ tồn tại duy nhất tại xã Chương Dương, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình hàng trăm năm nay tọa lạc trong sân thờ của ngôi đền thờ và lăng mộ Thiều quận công Phạm Huy Đĩnh.
Ông là một vị quan có công lớn dưới thời vua Lê – chúa Trịnh khoảng thế kỷ 18, cuối đời, khi ông mất đã được vua Lê – chúa Trịnh gia ân về quê xây phần lặng mộ và khu thờ.
Hàng trăm năm qua, dòng họ Phạm Huy của xã Chương Dương, hậu duệ của ông sau bao đời đã truyền nhau thờ tự.
Quần thế tượng đá này bao gồm một đôi voi đá, một đôi ngựa đá nằm phủ phục, xen kẽ là ba cặp tượng quân hầu bằng đá mang theo gươm, đao… đứng hầu. Ngay phía ngoài cổng của ngôi đền là một cặp tượng đá sắp hai bên; phía ngay ngoài đường bên kia chiếc hồ hình chữ nhật là một cặp tượng quân hầu bằng đá khác gác cổng. Lối bài trí, sắp đặt hệt như quần thể tượng đá tại lăng vua Minh Mạng trong Đại nội Huế.
 



Quần thể tượng voi, ngựa, người đá xếp thành hai hàng trong sân đền Từ Vũ tại xã Chương Dương, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình.
 
 
Tổng số tượng đá cả người, cả ngựa, voi đá… là 14 pho tượng khổng lồ, có kích cỡ to hơn người thường. Mỗi pho tượng là một khối đá liền khối, loại đá xanh chỉ có ở vùng núi đá Thanh Hóa – nơi nhà Hồ đã lấy để xây thành.
Ngoài ra, hai khối bia hình trụ có chân kê, có nắp đậy cũng bằng đá… là hai tấm bia hình trụ duy nhất Việt Nam: một tấm bia khắc bản tự do nhà bác học Lê Quý Đôn viết; một tấm bia khắc bản tự do cụ Nguyễn Nghiễm – thân sinh ra Đại thi hào Nguyễn Du viết.
Tượng hai người lính bằng đá chầu ngoài cổng đền. 
 
Tất cả đều có nội dung ghi lại lịch sử, xuất thân, cuộc đời nhiều công đức của Thiều quận công Phạm Huy Đĩnh cùng những thông tin về việc vua Lê – chúa Trịnh vinh hiển cho dòng họ Phạm Huy điền thổ, ngân khố… xây dựng đền thờ Thiều quận công.
Từ Vũ gần 3 thế kỷ tồn tại!
Trong dự thảo “Phục hưng phường Báo ân sinh từ Thiều quận công” của dòng họ Phạm Huy có viết: Thiều quận công Phạm Huy Đĩnh quê xã Cao Mỗ, tổng Cao Mỗ, phủ Tiên Hưng, tỉnh Thái Bình, nay là làng Cao Mỗ, xã Chương Dương, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình.
Ông sinh giờ Tuất ngày 12/5 năm Bính Ngọ (năm 1726) mất giờ Thìn ngày 18/11 năm Ất Mùi (1775). Thời gian sống và công hiến của ông khoảng giữa thế kỷ 18, đó là thời kỳ xã hội phong kiến Việt Nam duy trì thể chế vua Lê – chúa Trịnh.
Đây là quần thể tượng đá duy nhất ỏ miền Bắc có niên đại hàng trăm năm…
Từ nhỏ, Phạm Huy Đĩnh là người hiếu động, tính khí khác người. Ông là người quý tướng, sớm rèn luyện văn chương, võ nghệ theo nếp người xưa. Ông đỗ cử nhân rồi xuất thân, ban đầu là Thị nội ở phủ Tĩnh Vương, mọi việc đều đúng theo ý Chúa.
Phàm việc nghị án, tuần sát… đều rất mực trung thành với phủ liêu, sau được bổ nhiệm làm Tể tướng. Khi mất , ông được phong chính trực huân du Đại vương.
Tại sinh từ hiện nay còn hai tấm bia do Tiến sỹ Thượng thư Nguyễn Nghiễm (thân phụ Đại thi hào Nguyễn Du – tác giả cua Truyện Kiều bất hủ) và Bảng nhãn Thượng thư Lê Quý Đôn viết, đều ca ngợi ông, coi ông là bậc đại trí, đại cường, là cây đại thụ ở đời (theo Đất và người Thái Bình, Trung tâm Unesco – Thông tin tư liệu lịch sử văn hóa Việt Nam, xuất bản năm 2003).
Sân nhà thờ phủ rêu xanh cổ kính
 
Sinh từ được nhân dân địa phương tân tạo vào năm Cảnh Hưng 33 (1772) và là Từ Vũ của huyện Thần Khê, đến nay đã gần 240 năm.
Bút lục trên hai tấm bia có ghi: “Ngài tiếp nối chí hướng của vị Tiên công, luôn nghĩ đến việc an dân, bảo vệ dân, hưng điều lợi, trừ điều hại, giúp đỡ khẩn cấp, gỡ bao mối rối trong triều ngoài quận. Cả nước đều chịu ơn ban tứ của ngài, kiêm cái uy vọng ngài vốn là bậc tài giỏi, nhanh nhẹn, nơi nơi vui mừng như đền đài xuân.
Dân yêu kính ngài như cha mẹ, coi ngài như ngôi tuế tinh, nhờ vào bóng mát của cay cao bóng cả ai nấy ôm ấp trong lòng sự báo đền có rác với ngài mà chưa thực hiện được”.
Bởi vậy, nhân dân địa phương hiệp lực lo toan xây dựng sinh từ. “Đây là mảnh đất yên ổn, hàm chứa từ lâu ánh sáng linh thiêng lại kiêm sự vừa vặn của quy mô đất đai mà làm đền ba gian, bái đường 5 gian, phía ngoài làm nghi môn, chung quanh là tường bao. Tổng diện tích của khu thờ tự là một mẫu tám sào sáu thước, một ao bán nguyệt ba sào một thước hai tấc theo đúng nghi lễ thờ phụng muôn đời”.
Được tin này ông cũng không muốn như thế. Để thuận lòng dân, ông đã bỏ 2.000 quan tiền chi phí việc điêu khắc trang trí, hơn 20 mẫu ruộng tốt làm nhu phí cho việc tần tảo nguyên vật liệu.
Từ Vũ được xây dựng xong, định ra điều ước hàng năm để làm thọ. Đây là nơi hành lễ cầu chúc trăm tuổi, nơi ngưng đọng tình thần của một đời người. 
Ông Phạm Huy Bộc – cán bộ văn hoá xã, hậu duệ của Thiều quận công Phạm Huy Đĩnh của dọng họ Phạm 7 phái bên cạnh một pho tượng đá có chiều cao hơn 2 mét.
Ông lại cho phường Báo ân tiền cổ 500 quan và 17 mẫu ruộng để lấy tiền thuế chi phí vào việc hành lễ hàng năm; bổ cho tám thôn trong tổng mỗi thôn 300 quan tiền cổ, ruông từ 3 đến 5 mẫu; lượng thuế đồng niên mỗi mẫu là 03 quan tiền cổ, cộng với tiền lãi để lo làm lễ.
Có hai lễ được tổ chức trong một năm: ngày 12/5 (ngày sinh) và ngày 18/11 (ngày kỵ). Mỗi lễ một con lợn, một mâm xôi, một vò rượu, cùng trầu cau, vàng mã.
Đúng ngày dân lễ lên đền Từ Vũ, tế xong, sản vật được đem ra chia đều cho dân thường trong thôn cùng ăn uống. Các xã, các thôn có lễ vật kính tế, người nội tộc Phạm Huy không được yêu sách kính biếu.
Riêng thôn Cao Mỗ, hàng năm phải làm thêm hai giỗ bậc thân sinh ra Thiều quận công Phạm Huy Đĩnh.
Tại sinh từ, một hệ thống tượng (người, voi, ngựa) và bia đá bài trí ở sân chính đường, theo hình đồ vuông, đối xứng từng cặp, tổng số có 16 tiêu bản.
Trong đó gồm có 10 tượng người tả thực, mỗi người một vẻ sinh động; hai tượng voi, hai tượng ngựa đá.
Đặc biệt nhất là hai bia hình trụ tròn, có đỉnh và đế cao 2,05 mét; đỉnh bia là khối đá dật ba cấp hình vành khăn, theo hình tháp.  Thân bia cao 1,1m; chu vi 2,2 mét. Mặt bia chạm văn tự chữ Hán cổ gần như phủ kín.
Theo nghiên cứu của các nhà sử học và mỹ thuật, đây là hai tấm bia cổ điêu khắc đá quý hiếm duy nhất từ trước đến nay.

Toàn bộ đền thờ Từ Vũ nhìn từ phía bên ngoài chiếc hồ bán nguyệt.
 
Phía sau sinh từ là một lăng mộ thời hậu Lê, quách mộ bằng đá ong hình hộp có diện tích 4,0m x 1,7m x 1,5m. Nguyên liệu gắn kết các viên đá ong đến nay vẫn chưa biết rõ, nhưng các mạch đá khít nhau và thẳng như sợi chỉ đặt.
Tương truyền, những viên đá ong có thể chuyển từ vùng Bất Bạt, Sơn Tây về – quê hương của cụ Tổ họ Phạm 7 phái.
Vì sao và cách nào có thể vận chuyển được những pho tượng khổng lồ nặng hàng tấn từ vùng đồng rừng xa xôi hiểm trở về đất Thái Bình? Những bí ẩn của những pho tượng này cũng trở thành điểm ngắm của những kẻ đào trộm trộm, săn cổ vật… “viếng thăm”…

(Nguồn: vietnamnet.vn)